Đây là cảnh báo của những nhà khoa học tại hội thảo với chủ đề “Tìm
giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác, chế biến quặng
bôxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại khu vực Tây nguyên và Nam
Trung bộ” do UBND tỉnh Đắc Nông, Viện Tư vấn và phát triển (CODE) và
Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản VN (TKV) tổ chức ngày 22-10 tại
tỉnh Đắc Nông.
Báo cáo của đại diện TKV về chương trình khai thác
quặng bôxit tại các tỉnh Tây nguyên do tập đoàn này làm “tổng chỉ huy”
đã hứng ngay một “trận lũ quét” những ý kiến phản biện. Không chỉ những
nhà khoa học xuất thân từ vùng đất Tây nguyên hoặc có nhiều năm nghiên
cứu về Tây nguyên lên tiếng phản đối mà chính cả cán bộ của TKV cũng
cho rằng đây là một dự án “chẳng giống ai”.
Sai lầm chiến lược?
Theo TKV, mục tiêu của dự án là khai thác nguồn quặng
khổng lồ có trữ lượng quặng tinh hơn 3,4 tỉ tấn đang nằm im dưới lòng
đất Tây nguyên để phát triển kinh tế, đánh thức tiềm năng của vùng đất
này. Tuy nhiên, bài phản biện dài 75 phút của TS Nguyễn Thành Sơn -
giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng, thuộc TKV - bác bỏ gần như hoàn
toàn dự án này và cho rằng đây là một sai lầm chiến lược chứa đựng
những rủi ro không thể lường hết.
Ông Sơn đánh giá quy hoạch khai thác quặng bôxit được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao TKV làm đầu mối để triển khai ở
Tây nguyên là quá nhiều tham vọng. Bởi vì nhôm không phải là kim loại
quý và chưa có quốc gia nào coi bôxit là khoáng sản chiến lược để dốc
sức khai thác như VN. Theo ông Sơn, kế hoạch của TKV mới chỉ chú trọng
việc khai thác quặng rồi chế biến thành alumin để xuất khẩu thì hiệu
quả kinh tế không cao và chỉ có tác dụng phục vụ các đại gia luyện nhôm
nước ngoài vốn không muốn tốn nhiều chi phí cho việc khai thác.
Chưa kể chương trình khai thác, chế biến quặng bôxit
của TKV chứa đựng nhiều rủi ro không thể kiểm soát được. Nhu cầu nhôm
trong nước không nhiều và cũng không thể có đủ điện để có thể xây dựng
các nhà máy luyện nhôm phục vụ xuất khẩu. Trong khi đó, quá trình khai
thác đòi hỏi một nguồn vốn lớn, một nền tảng khoa học công nghệ cao sẽ
đặt VN vào thế phụ thuộc nước ngoài. Đặc biệt, các rủi ro về môi
trường, sinh thái bị hủy hoại đến nay chưa được nghiên cứu, chưa được
đề cập đến nơi đến chốn.
Ông Sơn kiến nghị lập ngay một ủy ban quốc gia về phát
triển bền vững cho vùng Tây nguyên, đồng thời tổ chức những cuộc tranh
luận khoa học “đến đầu đến đũa” các tác động của việc khai thác bôxit
đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Trong khi tranh luận chưa
ngã ngũ thì các dự án đang triển khai phải dừng lại để hạn chế những
hậu quả đáng tiếc.
Tàn phá môi trường
Khai thác quặng bôxit chế biến thành alumin để luyện
nhôm là một quy trình tiêu tốn lượng nước và điện khổng lồ, đồng thời
phát thải một lượng khí thải nhà kính và bùn đỏ có sức hủy diệt môi
trường rất ghê gớm. GS Đào Công Tiến - nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh
tế TP.HCM - cảnh báo: “Nguồn nước của Tây nguyên những năm gần đây sụt
giảm nghiêm trọng, nếu trưng dụng nguồn nước cho khai thác bôxit, chắc
chắn Tây nguyên sẽ chết vì thiếu nước”.
Chưa kể theo quy trình hiện nay, muốn sản xuất 1 tấn
nhôm cần phải có 2 tấn alumin, tức phải khai thác ít nhất 4 tấn quặng
bôxit. Và quá trình này thải ra đến 3 tấn bùn đỏ là một chất thải cực
kỳ nguy hại, thậm chí chứa phóng xạ mà ngay cả các nước phát triển như
Mỹ, Nhật cũng không có cách nào xử lý ngoài việc chôn lấp. TS Nguyễn
Thành Sơn trưng ra những hình ảnh các bãi chứa bùn đỏ ở các nước tiên
tiến như Pháp, Úc và cho rằng ý tưởng trồng cây trên những bãi bùn đỏ
mà TKV đưa ra là ảo tưởng.
Hiện nay không có cách nào khác là chôn lấp bùn đỏ
ngay tại Tây nguyên và với vị trí thượng nguồn của các con sông lớn,
những bãi bùn đỏ sẽ trở thành những núi “bom bẩn” nếu xảy ra thiên tai,
lũ quét gây tràn vỡ. “Khi đó không chỉ các tỉnh Tây nguyên mà người dân
các tỉnh Nam Trung bộ, Đông Nam bộ sẽ lãnh đủ hậu quả” - ông Sơn khẳng
định.
Quan trọng hơn, mặt đất sau khai thác quặng sẽ như thế
nào? Mặc dù TKV dẫn kinh nghiệm của các nước để cho rằng khả năng hoàn
thổ, phục hồi thổ nhưỡng là gần như đạt 100% nhưng các nhà khoa học
chứng minh ngược lại. Theo ông Sơn, với địa hình đồi dốc và mưa lũ hằng
năm của Tây nguyên, toàn bộ mặt đất sau khai thác sẽ bị nước cuốn trôi
và không thể nào có hi vọng tái tạo.
Cư dân bản địa, văn hóa dân tộc sẽ về đâu?
Là người con Tây nguyên, TS Tuyết Nhung Buôn Krông
phản biện bằng cách công bố công trình nghiên cứu dài 36 trang của nhóm
Đại học Tây nguyên về khảo sát xã hội tại khu vực TKV đang triển khai
nhà máy khai thác ở xã Nhân Cơ. Bà Tuyết Nhung khẳng định: “TKV nói
rằng khu vực khai thác bôxit là những vùng rừng không phát triển, cây
trồng không sống được trong khi thực tế cho thấy khu vực này đang phát
triển rất mạnh cây cà phê và đời sống người dân đang ổn định”.
Theo bà, với dự án đang triển khai tại Nhân Cơ đe dọa
không gian văn hóa truyền thống của người dân bản địa. Nếu mất “bon”
(làng của người M’Nông), mô hình làng truyền thống và văn hóa của người
M’Nông sẽ bị triệt tiêu.
Từ đó kéo theo hàng loạt vấn đề về văn hóa - xã hội,
thậm chí là các vấn đề an ninh, chính trị. Cơ hội việc làm cho người
lao động gần như không có, vì người dân tộc không có trình độ học vấn
để có thể đào tạo thành công nhân phục vụ các nhà máy. Không có đất
người dân bản địa sẽ đi đâu? Văn hóa Tây nguyên sẽ về đâu?” - bà Nhung
hỏi. Theo bà, người dân mong mỏi ở các cấp chính quyền và chủ đầu tư
một cam kết về vấn đề việc làm và bảo đảm một không gian văn hóa một
khi phải nhường đất cho các dự án khai thác bôxit.
Cả hội trường lặng đi khi tác giả của Đất nước đứng lên
- nhà văn Nguyên Ngọc - bước lên bục. Con người của vùng đất Tây nguyên
này cho rằng điều cần cân nhắc nhất không hẳn là vấn đề môi trường mà
trước hết và quan trọng hơn hết là chuyện xã hội - văn hóa. Ông Ngọc
nhắc lại: sau năm 1975 chúng ta đã tổ chức một cuộc di dân chưa từng có
từ đồng bằng lên Tây nguyên với cường độ, tốc độ rất lớn và đến nay đã
chứng tỏ đó là một sai lầm lớn.
Ông Ngọc cho rằng: “Chúng ta đã hành động ở Tây nguyên
rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người
rất đặc biệt về nhiều mặt. Thậm chí có thể nói chúng ta đã làm mọi việc
ở Tây nguyên như là trên một vùng đất không người”.
Theo ông, nếu tiếp tục triển khai dự án như kế hoạch
của TKV, chắc chắn không gian sống, không gian văn hóa của cư dân bản
địa Tây nguyên sẽ bị đảo lộn, nếu không nói là bị xóa sổ. Người M’Nông,
chủ nhân ngàn đời của vùng đất Đắc Nông, sẽ đi về đâu? Lời hứa của
những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa
với đồng bào M’Nông có bao nhiêu căn cứ?
Những câu hỏi này chưa được giải đáp và cuộc hội thảo
còn tiếp tục đến hết hôm nay. Chúng tôi xin mượn lời của nhà văn Nguyên
Ngọc để tạm kết thúc bài viết này: “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước
một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư
to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra
trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để
lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa, và thường vẫn vậy,
lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”!
|